Các chính sách An sinh xã hội có hiệu lực từ ngày 01/01/2019

29/12/2018 - Tin BHXH - BHYT


Từ ngày 01/01/2019, sẽ đồng loạt có 10 Luật có hiệu lực thi hành, bao gồm Luật An ninh mạng; Luật Tố cáo; Luật Quy hoạch; Luật Sửa đổi, bổ sung 11 luật có quy định liên quan đến quy hoạch; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật có liên quan đến quy hoạch; Luật Quốc phòng; Luật Lâm nghiệp; Luật Thủy sản; Luật Đo đạc và bản đồ; Luật Thể dục, thể thao. Ngoài ra, còn rất nhiều chính sách mới từ các thông tư, nghị định và văn bản pháp luật khác cũng sẽ được áp dụng trong năm mới.

(Ảnh minh họa)

Người nhiễm HIV/AIDS chính thức được chi trả chi phí khám, chữa bệnh BHYT

Có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, Thông tư 27/2018/TT-BYT của Bộ Y tế hướng dẫn việc thực hiện BHYT và khám bệnh, chữa bệnh liên quan đến HIV/AIDS. Cụ thể, quy định việc lập danh sách, đóng BHYT; phạm vi quyền lợi BHYT; khám bệnh, chữa bệnh, chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT và sử dụng dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến thực hiện BHYT, khám bệnh, chữa bệnh BHYT đối với người nhiễm HIV. Theo đó, người tham gia BHYT nhiễm HIV khi sử dụng các dịch vụ y tế liên quan đến HIV/AIDS được Quỹ BHYT chi trả: Thuốc kháng HIV (trừ trường hợp đã được nguồn tài chính hợp pháp khác chi trả); xét nghiệm HIV trong khám bệnh, chữa bệnh đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai và sinh con theo yêu cầu chuyên môn nếu không được các nguồn kinh phí khác chi trả; kỹ thuật đình chỉ thai nghén ở phụ nữ mang thai nhiễm HIV; khám bệnh, xét nghiệm HIV, thuốc kháng virus HIV và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh khác liên quan đến HIV/AIDS đối với trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV; xét nghiệm HIV theo yêu cầu chuyên môn trong khám, chữa bệnh; xét nghiệm HIV, điều trị bằng thuốc kháng HIV đối với người phơi nhiễm với HIV, người nhiễm HIV do tai nạn rủi ro (trừ các trường hợp tai nạn rủi ro nghề nghiệp đã được ngân sách nhà nước chi trả); điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội.

Thực hiện chế độ BHYT và mai táng phí đối với người Việt Nam có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế đang định cư ở nước ngoài

Có hiệu lực từ ngày 30/01/2019, Thông tư 170/2018/TT-BQP hướng dẫn Nghị định 102/2018/NĐ-CP ngày 20/07/2018 quy định về chế độ hỗ trợ và chế độ đãi ngộ khác đối với người Việt Nam có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế đang định cư ở nước ngoài. Riêng về chế độ BHYT và mai táng phí, theo hướng dẫn tại Thông tư, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện 02 chế độ này theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 102/2018/NĐ-CP; cụ thể trường hợp về nước định cư thì “kể từ tháng về nước định cư, được hưởng chế độ BHYT như đối tượng người có công với cách mạng, cựu chiến binh theo quy định của pháp luật về BHYT; khi từ trần người lo mai táng được hưởng trợ cấp mai táng phí theo quy định của pháp luật về BHXH hiện hành”. Bộ Ngoại giao chỉ đạo các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tổ chức tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách đối với đối tượng hoặc thân nhân đối tượng, trong đó có điều kiện hưởng BHYT, trợ cấp mai táng phí; hướng dẫn đối tượng hoặc thân nhân đối tượng lập hồ sơ đề nghị hưởng chế độ, tiếp nhận, rà soát, tổng hợp, lập danh sách, chuyên hồ sơ đối tượng hoặc thân nhân đối tượng về UBND cấp tỉnh (qua Sở Lao động – Thương binh và Xã hội) hoặc Bộ Quốc phòng (qua Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị) để giải quyết chế độ hỗ trợ theo thẩm quyền và quy trình, trách nhiệm giải quyết. UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện chặt chẽ, kịp thời chế độ BHYT, chế độ mai táng phí đối với đối tượng khi về nước định cư.

Phải được cấp chứng chỉ mới được hành nghề đo đạc và bản đồ

Theo Luật Đo đạc và Bản đồ số 27/2018/QH14 ngày 14/06/2018, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, về cá nhân hoạt động đo đạc và bản đồ, yêu cầu phải có chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ – tức là văn bản xác nhận năng lực hành nghề, do cơ quan có thẩm quyền cấp cho cá nhân có đủ điều kiện theo quy định. Mỗi chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ cấp cho một hoặc một số nội dung hành nghề theo Danh mục hành nghề đo đạc và bản đồ; công dân Việt Nam hành nghề đo đạc và bản đồ độc lập phải có chứng chỉ hành nghề phù hợp với công việc thực hiện; chứng chỉ có thời hạn ít nhất là 05 năm và được gia hạn. Cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ phải đáp ứng đủ các điều kiện như có đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; có trình độ chuyên môn được đào tạo, thời gian và kinh nghiệm tham gia công việc phù hợp với nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề; đã qua sát hạch kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến thức pháp luật liên quan đến nội dung đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề.

Lực lượng vũ trang nhân dân gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ

Theo Luật Quốc phòng số 22/2018/QH14 ngày 08/06/2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019, lực lượng vũ trang nhân dân gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ. Lực lượng vũ trang nhân dân được sử dụng trong các trường hợp: Trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng thực hiện theo lệnh của Chủ tịch nước và quy định khác của pháp luật có liên quan; Trong thi hành lệnh thiết quân luật, giới nghiêm thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; Trong tình trạng khẩn cấp do thảm họa, dịch bệnh nguy hiểm hoặc tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp và quy định khác của pháp luật có liên quan; Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp thực hiện theo quy định của pháp luật về an ninh quốc gia và quy định khác của pháp luật có liên quan; Khi tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới thực hiện theo quyết định của Hội đồng Quốc phòng và An ninh; Khi xảy ra tình huống phức tạp về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham gia phòng, chống, khắc phục sự cố, thiên tai, dịch bệnh, việc sử dụng lực lượng vũ trang do Chính phủ quy định.

Mức lương tối thiểu vùng mới tăng từ ngày 01/01/2019

Theo Nghị định 157/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định về mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, mức lương tối thiểu vùng mới tăng từ 160.000 – 200.000 đồng/tháng. Theo đó, khi thỏa thuận lương với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, doanh nghiệp phải đảm bảo mức tối thiểu như sau: Đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng I 4.180.000 đồng/tháng (tăng 200.000 đồng so với quy định hiện hành tại Nghị định 141/2017/NĐ-CP ); người lao động làm việc ở doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng II 3.710.000 đồng/tháng (tăng 180.000 đồng so với Nghị định 141); người lao động làm việc ở doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng III 3.250.000 đồng/tháng (tăng 160.000 đồng so với Nghị định 141); người lao động làm việc ở doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn vùng IV 2.920.000 đồng/tháng (tăng 160.000 đồng so với Nghị định 141). Mức lương tối thiểu vùng là mức thấp nhất làm cơ sở cho doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương.

07 nội dung mà người sử dụng lao động phải công khai theo Nghị định 149/2018/NĐ-CP

Có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019, Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ hướng dẫn Khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc. Trong đó, 07 nội dung mà người sử dụng lao động phải công khai bao gồm: Tình hình thực hiện nhiệm vụ, sản xuất, kinh doanh; nội quy, quy chế và các văn bản quy định khác của doanh nghiệp liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động; thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể khác mà doanh nghiệp tham gia; nghị quyết Hội nghị người lao động; việc trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi và các quỹ do người lao động đóng góp (nếu có); tình hình thực hiện thi đua, khen thưởng, kỷ luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và đặc biệt, là việc trích nộp kinh phí công đoàn, đóng BHXH, BHYT, BHTN.

Doanh nghiệp dưới 10 lao động được miễn tổ chức hội nghị người lao động

Tại Nghị định 149/2018/NĐ-CP ngày 07/11/2018 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019, quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc, có nội dung doanh nghiệp sử dụng dưới 10 người lao động được miễn tổ chức hội nghị người lao động và ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc bằng văn bản. Ngoài ra, Nghị định cũng quy định việc cho phép người lao động được tham gia đóng góp ý kiến về xây dựng, sửa đổi, bổ sung thang lương, bảng lương, định mức lao động; Được đề xuất, thực hiện giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc…

Tùng Anh – tapchibaohiemxahoi

Bình luận

avatar