Quốc hội biểu quyết tăng tuổi nghỉ hưu lên 62 đối với nam và 60 đối với nữ

21/11/2019 - Chính trị -xã hội


Với 90,06% số ĐBQH tham gia biểu quyết tán thành, sáng 20/11, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi), với nhiều nội dung liên quan đến NLĐ.

Theo Bộ luật Lao động (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua, về thời gian làm việc bình thường (Điều 105) là không quá 8 giờ trong 1 ngày và không quá 48 giờ trong 1 tuần. Người SDLĐ có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần, nhưng phải thông báo cho NLĐ biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 1 ngày và không quá 48 giờ trong 1 tuần. Nhà nước khuyến khích người SDLĐ thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với NLĐ. Người SDLĐ có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo các quy chuẩn kỹ thuật có liên quan.

Về làm thêm giờ (Điều 107), Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định rõ, đây là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định của pháp luật, thỏa ước lao động tập thể hoặc nội quy lao động. Người SDLĐ được sử dụng NLĐ làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau: Phải được sự đồng ý của NLĐ; bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 1 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 1 ngày, không quá 40 giờ trong 1 tháng; bảo đảm số giờ làm thêm của NLĐ không quá 200 giờ trong 1 năm, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều này.

Người SDLĐ được sử dụng NLĐ làm thêm không quá 300 giờ trong 1 năm trong một số ngành nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt may, da giày, điện, điện tử, chế biến nông- lâm- diêm nghiệp và thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước. Hoặc trong trường hợp cần giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời; trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn, do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước do hậu quả thời tiết, thiên tai, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất…

Về tuổi nghỉ hưu (Điều 169) của Bộ luật Lao động (sửa đổi) quy định, NLĐ bảo đảm điều kiện về thời gian đóng BHXH theo quy định của pháp luật về BHXH được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu. Tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ; sau đó cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

NLĐ bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại Khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 tuổi so với quy định tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

V.Thu – baobaohiemxahoi.vn

Bình luận

avatar